Mùa xuân này, nếu làm được một hành trình xuyên Việt để viết nên một du ký thưởng trà, ta có thể ghé thăm đến hàng chục hàng trăm địa chỉ uống trà cho thực khách trên đất nước. Nơi để uống trà thì hầu như tỉnh, thành nào cũng có, dù chưa nhiều và đều khắp. Nhưng tập trung nhất vẫn ở các trung tâm văn hóa như Hà Nội, Sài Gòn, Hội An, Huế...
[Chỉ có thành viên mới thấy link. ][Chỉ có thành viên mới thấy link. ]
Trà Huế xưa và nay
Có một không gian uống trà rất thanh khiết, rất thú vị và thấm đẫm vị Thiền. Đó là không gian trà thất trong các ngôi chùa. Ở Huế, chùa nào cũng có một không gian ẩm trà dành cho nhà chùa, cho tăng ni phật tử, cho khách thập phương, khách vãng lai du lịch. Đặc biệt là những ngôi chùa nổi tiếng lâu đời và ở xa trung tâm như Từ Hiếu, Linh Mụ, Huyền Không Sơn Thượng... Đó chính là những không gian Trà gần gũi với Trà đạo của Nhật Bản nhất. Tuy nhiên, không phải ai ai cũng biết và có duyên được thưởng thức, vì chùa là nơi tôn kính không phải chốn ta bà, mà kẻ phàm phu tục tử lại không thuộc về thế giới của trà, của miền tao nhã, thanh khiết và u tịch đó.
Tự ngàn xưa, trà vốn là quà tặng của thiên nhiên cho mọi người, cho mọi nhà, cho mọi giới, mọi thành phần xã hội. Nhưng dần dần trong lịch sử phát triển của trà, khi được nâng từ việc giải khát thuần túy lên thành cái Đẹp, và cao hơn nữa là một tín ngưỡng cái Đẹp gắn với triết lý Thiền Tông, lại kết hợp với nghi thức trình diễn và hành lễ trong các công đoạn pha trà, mời trà, thưởng trà, thì sự phân hóa đối tượng thưởng trà và mục đích dùng trà đã bắt đầu xuất hiện. Đã có lúc trà là phương tiện của chính khách với những mưu đồ vương bá (Trà trị). Cũng có khi trà bị lạm dụng vào những lạc thú thấp hèn (Trà hoa)... Nhưng may thay, cái thanh cao bao giờ cũng trở về với bản chất thuần khiết! Với người Việt Nam, trà lại trở về với nhu cầu giải khát trong chuyện ẩm thực hằng ngày. Về với nghi lễ cúng tế ông bà tổ tiên, thổ thần đất đai. Về với những buổi tiếp tân, nghinh khách trang trọng, những buổi họp mặt bạn bè, người thân hay trong những đêm trăng thanh gió mát chờ một đóa quỳnh nở muộn, một giò thủy tiên nứt nụ sớm, một đóa mai nhiều cánh kịp báo xuân về. Hay mời một mảnh trăng treo nghiêng trên bầu trời đêm vào đáy cốc...
[Chỉ có thành viên mới thấy link. ]
Đồi chè B'lao
Ở B’Lao, một thị xã cao nguyên trà xanh bạt ngàn , có một địa chỉ uống trà có lẽ còn đúng tinh thần của lễ trà truyền thống. Hãy đến đó một lần để thưởng thức hương trà xứ lạnh. Đừng băn khoăn nếu bạn biết rằng đó là nơi mà bốn chữ Hòa (Wa) – Kính (Kei) – Thanh (Sei) - Tịch (Jaku), nguyên tắc cao quý của Trà đạo Nhật Bản được tuân thủnhất! L.T là một trà thất đúng nghĩa và không nhằm mục đích kinh doanh - một trà thất u nhã, thanh khiết, tịch liêu hiếm hoi giữa thời buổi “đại trà” này. Quán trà nằm khá tách biệt với không gian đô hội. Qua một lối trúc quanh co, bạn sẽ đến một không gian vườn cảnh mang vẻ đẹp của dấu ấn thời gian, gần với không gian vườn cảnh Nhật Bản. Bạn sẽ được mời ẩm trà trong một trà thất đơn sơ được thiết kế và trang trí giản dị theo kiểu Nhật. Trà ngon luôn luôn sẵn có để đãi bạn hiền. Chủ nhân sẽ niềm nở đón tiếp bạn cho dù chỉ mới lần đầu góp mặt. “Trà nô, tửu tướng”! Có thể chính tay chủ nhân sẽ pha trà, rót trà đãi bạn với những thao tác thật điệu nghệ và trang nghiêm.
Đâu đó trong một am tranh của trà thất, vang lên một tiếng chuông tịnh ý, một bài kệ uống trà quen thuộc:
“ chén trà trong hai tay ,
Đúng là một sự an lạc trong hiện hữu vì tương ngộ và mong có lần tái ngộ.
chánh niệm dâng tràn đầy
Thân và tâm an trú
Bây giờ và ở đây... “
Nhìn chung các nơi uống trà này đều có không gian đẹp, nhưng chỉ ở những nơi còn đất rộng người thưa như phố cổ, cố đô, Bảo Lộc, Đà Lạt... thì không gian Trà mới thật sự khoáng đãng . Còn phần lớn ở Hà Nội, Sài Gòn “tấc đất tấc vàng” thì vẫn xô bồ chật hẹp giữa muôn vàn âm thanh cuộc sống. Phần lớn các điểm trà này đều muốn vươn đến sự sang trọng, tinh tế của Trà cung đình nên đầu tư quá tốn kém. Mà quên rằng trong Trà đạo Nhật Bản - đỉnh cao của nghệ thuật Trà thì cái Đẹp không phải ở sự xa hoa, sự giàu có, sự phô trương. Mà ở sự giản dị đơn sơ nhất trong hai chữ, Sabi - vẻ đẹp tự nhiên, cổ sơ mang dấu ấn của thời gian, và Vabi - vẻ đẹp thường ngày, nguyên sơ giản dị và hữu dụng.
[Chỉ có thành viên mới thấy link. ]
Cho nên ngay tên gọi cũng cho thấy sự khác biệt lớn trong quan niệm và sự hiểu biết về văn hóa Trà. Người Nhật gọi nơi uống trà bằng tre nứa đơn sơ của mình là túp lều (Tokonoma), ta dịch là Trà thất. Còn ở Việt Nam đều gọi những cái tên thật sang trọng gắn với các không gian thật cầu kỳ và tốn kém trong kiến trúc: Trà Cung đình, Trà Hoàng Cung, Trà đình và bình dân hơn thì gọi là Trà quán. Định danh một sự vật, hiện tượng chính là cách thể hiện quan niệm của ta về nó. Vật dụng pha trà (Trà cụ) thì phần lớn hiện đại quá. Ta cũng thông cảm cho Trà chủ, vì giữa một không gian chật hẹp, đông khách ra vào, việc hiện diện những bếp lò than củi thật là bất tiện! Trang trí Trà thất phần lớn quá cầu kỳ với quá nhiều đèn lồng, tranh, hoa, thư pháp...Rõ ràng đó là thiện ý và nhiệt tình của chủ nhân, nhưng nó làm cho không gian trà trở nên nặng nề, phô trương. Đối với Trà đạo Nhật Bản, đó là một điều tối kỵ. Ta cứ ghi nhận ở đây một tấm lòng của chủ nhân, nhưng vẫn phải từ chối một thị hiếu thẩm mỹ kiểu ấy!
Tiếp ta ở những điểm trà này là những người phục vụ. Phần lớn là các cô gái tiếp viên trẻ đẹp trong những trang phục truyền thống, đã được đào tạo cấp tốc một khóa pha trà nên ít nhiều cũng đã điêu luyện, không còn vụng về, ngượng ngịu. Nhưng cũng vì chỉ là người làm thuê, nên họ chỉ biết pha trà như một người phục vụ chu đáo, lặp đi lặp lại cái công việc đó hàng ngày, hàng đêm chứ không có cái hồn của người pha trà gởi vào trong từng động tác, trong mỗi làn hương. Đó chính là điều mà khách trà luôn cảm thấy như thiêu thiếu, trống vắng một cái gì khó gọi tên.
Còn chủ nhân các phòng trà này thì rất ít khi xuất hiện, vì nhiều khi họ còn bận túi bụi dưới bếp, bên quầy thu ngân hay đang chạy qua chạy về giữa các cơ sở trà khác... Làm gì còn chuyện đàm đạo giữa chủ và khách về văn chương, nghệ thuật trong một làn hương trà thanh khiết. Trà để pha mời khách thì thật nhiều loại, nhiều hạng, nhiều giá để lựa chọn dưới nhiều cái tên thật ấn tượng... Nhưng nhiều quá đến chóng mặt! Và trong đó một số không ít tiếc thay đều ở dạng trà túi lọc, mà những hóa chất của một nền công nghệ trà hiện đại đã làm phai nhạt hương xưa ngày cũ mất rồi! Trà cũng như cách pha trà và cách thưởng trà thì hòa lẫn đủ mọi phong cách từ Trà Nhật đến Trà Hoa qua Trà Việt. Thôi thì miễn sao để được thư giãn tâm hồn, ta cũng không câu nệ làm chi!
Còn Trà khách thì sao? Một khi đã trở thành dịch vụ Trà cũng phải chịu sự trầm luân dưới sức nặng của đồng tiền và sự thô thiển, tục lụy của cuộc đời. Tìm đâu được thật nhiều những con người tao nhã, những kẻ “Trà si” bước ra từ những trang sách của Nguyễn Tuân một thời vang bóng, hay trong các Trà thoại ngày xưa. Khách trà ngày nay người cao niên vẫn rất nhiều nhưng giới trẻ cũng không ít. Người già đến với Trà chắc chắn vì họ đã yêu và gắn bó với Trà bằng cả cuộc đời, nhưng giới trẻ thì ta chưa thật sự yên tâm. Nhiều đôi chỉ đến quán trà vì đơn giản ở đó có những căn phòng ấm áp, kín đáo, ánh sáng bạch lạp lại mờ ảo (họ đâu biết rằng ánh sáng mờ ảo là quy định của Trà đạo Nhật Bản mà người Việt tiếp thu chứ không phải để khách Trà tình tự!!!)... Dù giàu sang hay nghèo hàn, phong lưu hay đạm bạc, vẫn cần phải giữ gìn cho được những nét đẹp trong văn hóa thưởng trà của người Việt Nam ta với cái đẹp dung dị, tự nhiên, mà không kém chiều sâu trí tuệ và vẻ đẹp nhân văn.
Dân mê trà chắc không ai không biết giai thoại về UỐNG TRÀ ĐI của thiền sư Triệu Châu hỏi hai vị tăng mới đến. Triệu Châu Tùng Thẩm tham vấn rằng:
- Hai ngươi đã từng đến đây chưa?
- Thưa chưa từng đến.
- Uống trà đi.
Lần khác Hòa Thượng lại hỏi mấy vị tăng mới đến rằng:
- Các ngươi đã từng đến đây chưa?
- Thưa có đến rồi.
- Uống trà đi.
Thấy vậy vị Viện Chủ bèn thưa rằng:
- Bạch Hòa Thượng, đối với người mới đến tham học mà Hòa Thượng dạy “Uống trà đi” thì không sao cả . Còn mấy người trước kia đã từng đến đây rồi sao Hòa Thượng cũng bảo họ “Uống trà đi” ?
Triệu Châu mới lớn tiếng gọi:
- Thầy Viện Chủ
- Dạ. Viện Chủ đáp.
- Thầy uống trà đi. Triệu Châu nói.
Như vậy đối với người mới đến hay đã từng đến tham học, Hòa Thượng Triệu Châu đều không phân biệt và mời uống trà. Khi thọ nhận tách trà nầy với vô tâm thì có thể nói rằng vị ấy đã thấu triệt được cốt tủy của Thiền. Như chúng ta cũng đã biết, ngày nay hình thức Cha-no-yu ( Trà Hội) vốn phát xuất từ trong Thiền môn. Thiền sư Nhất Hưu Tông Thuần, Sarei - Trà Lễ ) đã truyền trao nghi thức nầy lại cho Châu Quang và Thiên Lợi Hưu - người thành công trong việc hình thành nên Trà Đạo. Chính Lợi Hưu đã từng nói rằng: “Cha-no-yu nghĩa là biết cái gốc của việc chỉ đun nước sôi, khuấy trà rồi uống mà thôi. ” Nếu như chúng ta quên đi cái gốc mà Lợi Hưu đã từng nhấn mạnh thì Trà Đạo không còn ý nghĩa nữa. Tuy nhiên chỉ có mấy chữ "chỉ... mà thôi" ấy cũng không phải dễ làm.
Một cung cách uống trà trong đại chúng những thiền viện từ L.M ( Pháp quốc) cũng là một nét văn hóa đặc trưng cho tinh thần thiền học thâm u nơi chốn thiền môn. Nét đẹp văn hóa phải thuộc về ý thức của cộng đồng với sự góp sức của bao người qua bao thế hệ. Việc tiếp thu nét đẹp văn hóa của bạn bè trên thế giới để không ngừng làm phong phú, tự hoàn thiện văn hóa quê nhà là một quy luật sống còn của mọi nền văn hóa. Điều đó phải trở thành một ý thức sâu sắc và thường trực trong chúng ta.
Mùa xuân mới lại sắp về. Ngoài hiên xuân, ta chợt nghe một tiếng lá rơi của mùa Đông còn sót lại. Giữa mênh mang cuộc đời với vô thường – vô ngã, giữa những khổ đau chập chùng như những đợt sóng triều dâng... Và khi không còngì để bấu víu, bị vong thân ngay chính trong thân tâm của mình thì trong tự thẳm sâu bỗng vang lên một giọng từ bi “ hãy trở về với hải đảo tự thân... “ Để bên chén trà Bát Nhã ta không còn thấy những thù hận , vị kỷ, vị ngã, đa nghi, thắng bại... Để làm cho lòng người không còn cách xa nhau. Hãy uống cạn chén trà nóng để hương vị Bát Nhã thấm sâu vào từng thớ thịt, vào từng ngõ ngách của con tim. Để chúng ta có cơ hội sống thật với chính mình, sống thật với giá trị văn hóa mà mình đang có được. Và để mở rộng tấm lòng đón nhận và phát huy những giá trị văn hóa cùa nhân loại...
Một thoáng mây bay, một làn hương trà thoảng giữa hiên xuân. Có lẽ, hạnh phúc sẽ không còn xa lạ nữa bên những chén trà vô ngã , vô ngôn ấy.
Tuệ Giải




Trả lời kèm trích dẫn bài này

